Trang nhất
 
 
Thông tin-Sự kiện
 
 
Kỹ Thuật Chăn Nuôi
 
 
Thông Tin Chăn Nuôi
 
 
Gương Mặt
 
 
Thông Tin Thị Trường
 
 
Hỏi - Đáp
 
 
Thư Giãn
 
 
Rao Vặt
 
Mỗi Tuần Một Gương Mặt
> Công Ty
13/8/2026 16:22:58
HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP VÀ SINH SẢN TRÊN HEO GIẢI PHÁP PHÒNG BỆNH HIỆU QUẢ BẰNG VẮC-XIN CAVAC HPRRS
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản trên heo (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome – PRRS) là bệnh truyền nhiễm do vi-rút PRRS (PRRSV) gây ra. PRRSV thuộc họ Arteriviridae, giống Betaarterivirus. Bệnh đặc trưng bởi các rối loạn sinh sản ở heo nái như sảy thai, đẻ non, thai chết lưu và sinh con yếu, đồng thời gây bệnh hô hấp trên heo con và heo thịt với các biểu hiện như sốt, bỏ ăn, khó thở và giảm tăng trọng; ở một số trường hợp có thể xuất hiện hiện tượng tím tai (tai xanh). PRRS được xem là một trong những bệnh truyền nhiễm gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng nhất đối với ngành chăn nuôi heo trên toàn thế giới.                                                                                                                                                
 Tác nhân là PRRSV (sợi RNA đơn dương, có vỏ), gồm 2 genotype chính: PRRSV-1 (European lineage) và PRRSV-2 (North American lineage). Một số chủng PRRSV-2 lưu hành tại Châu Á có độc lực cao và gây thiệt hại nghiêm trọng

Lịch sử bệnh
- Năm 1987, hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở heo (PRRS) được ghi nhận lần đầu tiên tại Hoa Kỳ.
- Năm 1990, bệnh tiếp tục được phát hiện tại các nước Châu Âu.
- Năm 1991, Viện Thú y Lelystad  đã phân lập thành công vi-rút gây bệnh. Vi-rút này được gọi là “Lelystad” để ghi nhớ nơi phân lập đầu tiên, tuy nhiên PRRSV vẫn là tên gọi phổ biến.
- Sau đó, bệnh lan rộng trên toàn cầu và hiện đang lưu hành ở hầu hết các quốc gia chăn nuôi heo.
- PRRSV gây thiệt hại kinh tế lớn, ước tính tại Châu Âu và Bắc Mỹ khoảng 4,67–15,25 USD/heo thịt và 105–210 USD/heo nái.(Holtkamp et al., 2013; Nieuwenhuis et al., 2012; Polson et al., 2003).
Đường truyền lây
Vi-rút PRRS có thể tồn tại trong cơ thể heo nhiễm bệnh và được đào thải qua dịch mũi, nước bọt, tinh dịch, nước tiểu và các dịch tiết khác trong nhiều tuần đến vài tháng, tạo nguồn lây cho các heo cảm nhiễm.

Triệu chứng
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản trên heo (PRRS) có thể xuất hiện trên nhiều nhóm tuổi trong cùng một đàn. Triệu chứng lâm sàng khác nhau theo từng đối tượng mắc bệnh, nhưng đặc trưng là rối loạn sinh sản ở heo nái và bệnh hô hấp ở heo con, heo cai sữa và heo thịt, bao gồm:
- Sốt cao (40–41,5℃) .      
- Ho, hắt hơi, thở thể bụng; chảy nước mũi, mắt có ghèn, gỉ.
- Phát ban đỏ hoặc da thâm tím, đặc biệt ở tai, mông, bụng.
- Heo nằm nhiều, chán ăn, mệt mỏi. 
 
 
Ngoài ra, heo nái, heo con, heo thịt và heo đực sẽ có những triệu chứng bệnh lý khác nhau:
  • Heo con và heo thịt: Gầy yếu, sức sống thấp, heo con theo mẹ có xuất huyết vùng rốn. Thường kế phát các bệnh về hô hấp và tiêu hóa. Tỷ lệ chết cao khoảng 30% trở lên.
(Heo thịt bị sốt đỏ)

  • Heo đực giống: Ho, thở dốc, mệt mỏi, lười vận động. Heo đực giống mất tính hăng và giảm số lượng và chất lượng tinh.
  • Heo nái: Tỷ lệ đậu thai kém, heo nái mang thai sảy thai ở nhiều giai đoạn khác nhau. Heo nái sinh non, đẻ sớm hơn bình thường vài ngày (đẻ trước 110 ngày). Lúc sinh ra heo con yếu, chết nhiều sau khi sinh. Nái sau khi sinh thường mất sữa và viêm vú (đây là triệu chứng rất đặc trưng). Có hiện tượng động dục giả hoặc chậm động dục trở lại sau khi sinh.
 
(Sảy thai giai đoạn cuối trên heo nái)

Chẩn đoán 
- Chẩn đoán lâm sàng: Dựa trên đặc điểm dịch tễ và các biểu hiện lâm sàng như sốt, bỏ ăn, ho, khó thở, rối loạn sinh sản ở heo nái (sảy thai, đẻ non, thai chết lưu) và một số trường hợp có biểu hiện tím tai, tím mõm hoặc tím vùng da ngoại vi. Cần phân biệt với các bệnh hô hấp và sinh sản khác trên heo.                                                                                                                       
- Chẩn đoán phòng thí nghiệm:
  • Real-time PCR: Phát hiện RNA vi-rút PRRS trong mẫu bệnh phẩm; là phương pháp có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, phù hợp để chẩn đoán sớm. 
  • ELISA: Phát hiện kháng thể PRRS hỗ trợ đánh giá tình trạng phơi nhiễm hoặc đáp ứng miễn dịch sau tiêm phòng; thích hợp ở giai đoạn sau nhiễm.

Yếu tố góp phần lây lan diện rộng
Sự lưu hành của PRRSV trong đàn kết hợp với điều kiện an toàn sinh học không đảm bảo, mật độ chăn nuôi cao, việc nhập đàn hoặc ghép đàn không kiểm soát, vận chuyển heo giữa các trại, stress do cai sữa hoặc thay đổi môi trường và sự xuất hiện của các bệnh kế phát là những yếu tố quan trọng làm gia tăng nguy cơ bùng phát và lây lan dịch PRRS. 

Chiến lược phòng ngừa bệnh tai xanh hiệu quả bằng vắc-xin CAVAC HPRRS
 
  • Cần kết hợp chặt chẽ an toàn sinh học, quản lý đàn. Cần kiểm soát con giống đầu vào, sát trùng định kỳ, hạn chế stress, nâng cao sức đề kháng đàn heo và giám sát sớm các dấu hiệu bệnh.
  • Trong phòng bệnh chủ động, tiêm vắc-xin phù hợp là giải pháp quan trọng giúp giảm nguy cơ bùng phát và hỗ trợ kiểm soát dịch hiệu quả. Vi-rút PRRS có khả năng lây lan nhanh và gây thiệt hại lớn, do đó phòng bệnh chủ động bằng vắc-xin là giải pháp quan trọng. Để đạt hiệu quả, khuyến cáo tiêm phòng bằng vắc-xin CAVAC HPRRS cho đàn vật nuôi nhằm tạo miễn dịch, giảm nguy cơ bùng phát dịch và nâng cao hiệu quả kiểm soát bệnh.

Lịch tiêm phòng khuyến cáo:
- Tiêm sâu bắp thịt (sau tai)
 
Lưu ý:
 Chỉ tiêm cho heo khỏe mạnh.
 Không tiêm cho heo đực giống và heo nái mang thai.
 Không dùng trong trường hợp khẩn cấp.
 Vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ thú y trước khi sử dụng.




Các tin khác :
Trang:   1  2  3  4  5  
loading...
loading...

Công ty Kiến Thức Chăn Nuôi Hàn Việt
Số 6, Hưng Thái 1, P. Tân Phong, Q.7, Tp.HCM
ĐT: (08) 5410. 3615 - Fax: (08) 5410 3573 - Email: heo@heo.com.vn
©Copyright 2010 by Kiến Thức Chăn Nuôi Heo
®Kiến Thức Chăn Nuôi Heo giữ bản quyền nội dung trên website này
Số lượt truy cập: stats counter