Trang nhất
 
 
Thông tin-Sự kiện
 
 
Kỹ Thuật Chăn Nuôi
 
 
Thông Tin Chăn Nuôi
 
 
Gương Mặt
 
 
Thông Tin Thị Trường
 
 
Hỏi - Đáp
 
 
Thư Giãn
 
 
Rao Vặt
 
Thông Tin Chăn Nuôi
> Thông Tin Chăn Nuôi
21/8/2018 09:13:19
Khả năng tiêu hóa năng lượng trong 23 nguồn cung DDGS cho heo
Theo nghiên cứu tại Phòng thí nghiệm dinh dưỡng dạ dày đơn Hans H. Stein thuộc Đại học Illinois cho thấy, mức năng lượng trong bã rượu khô với các chất hòa tan (DDGS) bị ảnh hưởng bởi cách xử lý và hầu hết có liên quan đến hàm lượng chất xơ cũng như lượng dung môi bổ sung vào. DDGS là sản phẩm của ngành công nghiệp ethanol và thường được sử dụng như một nguyên liệu giúp tiết kiệm năng lượng và protein trong khẩu phần thức ăn chăn nuôi cho heo.



DDGS thông thường chứa khoảng 27% protein thô, 10% chất béo, 9% chất xơ a-xít (ADF) và 25% chất xơ trung tính (NDF). Trong các nguồn DDGS thông thường, năng lượng tiêu hóa (DE) là khoảng 3.500 kcal/kg và năng lượng trao đổi (ME) khoảng 3.350 kcal/kg. Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể giữa các nhà máy sản xuất DDGS. Ví dụ, trong những năm gần đây, các nhà máy ethanol đã bắt đầu chiết xuất dầu từ DDGS để bán cho các ngành công nghiệp nhiên liệu sinh học. Điều này dẫn đến DDGS có hàm lượng chất béo giảm còn khoảng 6 – 9%, điều này có thể dẫn đến giá trị DE và ME thấp hơn.

Nếu heo ăn khẩu phần có giá trị DE và ME thấp liên quan đến DDGS thông thường thì điều này có thể sẽ làm giảm năng suất tăng trưởng trên heo. Theo đó, nó sẽ làm giảm giá trị kinh tế của DDGS. Một thí nghiệm đã được tiến hành để xác định sự khác biệt của DE và ME trong các sản phẩm DDGS.

Thiết kế thử nghiệm

Tổng cộng có 23 nguồn cung DDGS được sử dụng trong thử nghiệm. Mẫu DDGS được mua từ các nhà máy ethanol khắp miền Trung Tây Hoa Kỳ: 11 từ Illinois, 4 từ Indiana, 4 từ Iowa, 2 từ Missouri và 2 từ Wisconsin.

Một khẩu phần ăn cơ bản gồm bắp, chất khoáng và vitamin. Mỗi khẩu phần thí nghiệm được bổ sung vào khẩu phần ăn cơ bản 40% của 1 trong 23 nguồn DDGS. Những khẩu phần ăn này được cung cấp cho 24 heo choai thiến có trọng lượng cơ thể trung bình ban đầu là 28,1kg. Mỗi heo choai được cho ăn 8 nguồn cung DDGS khác nhau.

Kết quả

Hàm lượng protein thô của DDGS dao động từ 24,58 – 32,21%, trung bình là 29,94% (Bảng 1). Hàm lượng chất béo, được thể hiện qua hàm lượng ether chiết xuất bằng thuỷ phân a-xít (acid hydrolysed ether extract), dao động trong khoảng 5,25 – 10,58%, trung bình là 7,92%. ADF dao động khoảng 8,38 – 19,08%, trung bình 13,58% và NDF dao động 23,42 – 33,26%, trung bình là 28,42%.
Hàm lượng tinh bột dao động từ khoảng 6,60%, với mức trung bình là 1,33%. Năng lượng thô (GE) dao động từ khoảng 4.335 – 4.934 kca/kg, trung bình là 4.556 kcal/kg.

Việc giảm nồng độ chất béo trong các nguồn DDGS so với thông thường chỉ ra rằng, hầu hết các nguồn DDGS đã được chiết xuất dầu, với hàm lượng khác nhau. Do một lượng chất béo đã bị tách bớt, tỷ lệ các chất dinh dưỡng khác sẽ tăng. Hiệu quả của quá trình lên men tinh bột cũng khác nhau đáng kể giữa các nhà máy ethanol.

Tỷ trọng của bã dao động từ 368 – 548g/lít, với trung bình là 482g/lít và kích thước hạt từ 266 – 930μm với mức trung bình là 589μm. Những điều này cho thấy rằng, các nguồn DDGS khác nhau theo hàm lượng dung môi được thêm vào.

Giá trị DE trong 23 nguồn DDGS dao động từ 3.145 – 3.786 kcal/kg chất khô (DM), với mức trung bình 3.474 kcal/kg DM (Bảng 2). Giá trị của ME dao động từ 2.880 – 3.598 kcal/kg DM, với trung bình là 3.173 kcal/kg DM. Các giá trị trung bình nhỏ hơn các giá trị DDGS thông thường quan sát thấy trong các nghiên cứu trước đó.

  • DE = –688,58 – 6,11*ash + 0,69*GE + 3,06*NDF – 7,89*lignin + 1,44*tỷ trọng – 0,26*kích thước hạt (r2= 0,78)
  • ME = –784,30 – 7,88*ash + 0,67*GE + 5,48*NDF – 6,80*lignin + 2,22*starch – 0,48*kích thước hạt (r2= 0,74)
Dựa trên giá trị GE, NDF và lignin, cũng như tỷ trọng và kích thước hạt, có thể đưa ra các phương trình dự đoán tương đối chính xác về DE và ME trong DDGS. Mặc dù, hàm lượng chất béo có khác nhau giữa các nguồn DDGS, yếu tố không phải là một thành phần của phương trình.

Những điểm chính

Giá trị DE và ME trong DDGS thay đổi đáng kể do sự khác biệt trong kỹ thuật sản xuất. Các giá trị trung bình của DE và ME trong nghiên cứu này đều thấp hơn so với giá trị DDGS thông thường được báo cáo từ nghiên cứu trước đây.


Hàm lượng chất xơ và dung môi bổ sung vào DDGS có thể làm thay đổi DE và ME giữa các nguồn DDGS trong nghiên cứu này.

Các nhà nghiên cứu nói thêm rằng, có thể tạo ra các phương trình dự đoán tương đối chính xác cho DE và ME trong DDGS, nhưng cũng cần thêm các nghiên cứu để xây dựng các phương trình có độ chính xác cao hơn.
heo.com.vn




Các tin khác :
Trang:   1  2  3  
loading...
loading...

Công ty Kiến Thức Chăn Nuôi Hàn Việt
Số 3 đường số 2, KP. Hưng Gia 1, Phú Mỹ Hưng, P. Tân Phong, Q.7, Tp.HCM
ĐT: (08) 5410. 3615 - Fax: (08) 5410 3573 - Email: heo@heo.com.vn
©Copyright 2010 by Kiến Thức Chăn Nuôi Heo
®Kiến Thức Chăn Nuôi Heo giữ bản quyền nội dung trên website này
Số lượt truy cập: stats counter